Chương 8
Cô ấy nghiêng đầu, ánh mắt trong veo như nước hồ thu, dường như mang theo sự hiếu kỳ đối với cả thế giới này vậy.
Còn tôi thì giữa làn gió xuân ấm áp, dìu dịu này, bỗng chốc rùng mình run rẩy một cái.
Bên ngoài cửa sổ xe, cây cối đang đâm chồi nảy lộc, một màu xanh mướt tràn đầy sức sống, căng tràn sinh khí.
Thế nhưng tôi lại bất giác nhớ về ngày đầu tiên mình bị điều chuyển đến vùng Đại Bắc Hoang ở kiếp trước.
Lạnh, thật sự là quá lạnh.
Dù có mặc chiếc áo khoác bông dày cộp đến mấy, gió lạnh vẫn cứ thế mà đâm thẳng vào tận xương tủy.
Tôi chưa bao giờ nghĩ tới việc sẽ có một nơi mà ngay giữa tháng Tư xuân sang, tuyết vẫn bay đầy trời, cũng chưa bao giờ nghĩ tới việc sẽ có một nơi mà mùa đông lạnh giá lại dài hơn cả bốn mùa cộng lại.
Tôi mấp máy môi, cổ họng có chút nghẹn đắng.
“Tôi... tôi sợ lạnh lắm, chỉ muốn đến một nơi nào đó ấm áp thôi.”
“Có người từng nói với tôi, hải đảo ấm áp lắm, quanh năm bốn mùa đều không có tuyết rơi. Khát thì có nước dừa để uống, đói thì có xoài, có dứa để ăn, tôi muốn đến đó xem thử xem sao.”
“Thế còn mấy thứ rắn rết sâu bọ kia, cô không sợ sao?”
Chẳng biết là ai trong toa xe thuận miệng hỏi xen vào một câu.
Tôi lắc đầu, khóe môi khẽ cong lên thành một nụ cười: “Không sợ, chỉ cần không lạnh, tôi cái gì cũng không sợ.”
Từ Nam Thành đến hải đảo, phải chuyển từ tàu hỏa sang ô tô, từ ô tô sang phà cứu sinh, mà đi phà thì còn phải phụ thuộc vào thời tiết, ròng rã hành hạ suốt mười mấy ngày trời, cuối cùng tôi mới được ngồi lên chiếc xe bò của một bác nông dân tốt bụng.
Khoảnh khắc đôi chân thật sự chạm vào mặt đất kiên cố, tôi mới có được cảm giác chân thực của việc được tái sinh.
Mặc dù những người xung quanh đều nói thứ tiếng địa phương mà tôi nghe không hiểu một chữ bẻ đôi, họ vừa nhìn tôi vừa chỉ trỏ, bàn tán ra vào.
Thế nhưng tôi vẫn nhiệt tình lên tiếng chào hỏi tất cả những người mình bắt gặp trên đường, cầm theo thư giới thiệu làm xong thủ tục đăng ký, nhận chậu rửa mặt, khăn lau và xà phòng, lấy lại số nhu yếu phẩm hàng ngày mà mình đã cẩn thận gửi bưu điện từ trước, rồi vui vẻ, hăm hở đi về phía điểm tập trung của thanh niên tri thức.
Điểm tập trung của thanh niên tri thức là những ngôi nhà đất được đắp bằng đất nện, trên mái lợp cỏ tranh đơn sơ.
Trông qua thì có vẻ cũng chẳng khác mấy so với những ngôi nhà đất vàng ở vùng Đại Bắc Hoang, nhưng nhìn kỹ thì lại thấy có điểm không giống.
Tôi vừa bước đến cửa, đang định giơ tay đẩy cửa bước vào thì bỗng nghe thấy tiếng khóc thút thít truyền ra từ bên trong.
“Ai cũng bảo hải đảo tốt lắm, bốn mùa như xuân, còn được ngắm biển nữa chứ, sao không nói luôn là lúc đi ngủ còn có cả rắn với chuột chui tọt vào trong chăn cơ chứ!”
“Mới có tháng Tư thôi mà muỗi đã bay vo ve đốt người ta như muốn ăn tươi nuốt sống rồi, cái nơi rách nát này tôi không thèm ở lại thêm một ngày nào nữa đâu!”
Lời còn chưa dứt, cánh cửa trước mặt tôi bỗng nhiên bị đẩy mạnh ra, hai cô nàng thanh niên tri thức người trước người sau khóc lóc chạy vọt ra ngoài.
Tôi nhìn theo bóng lưng hai người họ rời đi, cũng chẳng mấy bận tâm.
Tôi bước chân vào trong, tìm cho mình một chỗ giường trống, vừa mới thu dọn xong xuôi đồ đạc thì đội trưởng đội sản xuất Thiệu Giải Phóng đã đi tới.
Ông ấy đứng ở ngay bên ngoài cửa sổ, hai tay chắp ra sau lưng, khuôn mặt nghiêm nghị nhíu chặt đôi lông mày.
Chạm phải ánh mắt của tôi, ông ấy khẽ tằng hắng một tiếng rồi cất giọng hỏi: “Mấy đứa thanh niên tri thức khác đứa nào đứa nấy đều đang khóc lóc đòi đòi về nhà, sao cô vẫn còn ở chỗ này?”
12
Tôi vỗ vỗ lại tấm chăn đệm đã trải sẵn, đứng thẳng người dậy mỉm cười với ông ấy:
“Đội trưởng, là tự cháu nộp đơn xin đến đây mà, sao lại phải đi?”
Thiệu Giải Phóng có lẽ không ngờ tôi lại phản ứng như vậy, ông ấy thẫn thờ một thoáng, lông mày càng nhíu chặt hơn.
“Tự nộp đơn xin đến? Đang yên đang lành không ở thành phố hưởng phước, lại chạy đến cái đảo khỉ ho cò gáy này làm gì? Cô có biết điều kiện trên đảo này ra sao không hả?”
Tay tôi vẫn không ngừng động tác, lôi từ trong túi xách ra một chiếc ca tráng men đã tróc ít sơn.
“Cháu biết chứ ạ, cháu không sợ chịu khổ đâu, chú cứ yên tâm.”
Đôi mắt sắc bén của Thiệu Giải Phóng nhìn tôi chằm chằm không chớp một giây, như thể đang phán đoán xem lời tôi nói là thật hay giả.
Nhưng cuối cùng ông ấy cũng không hỏi thêm, chỉ buông một câu: “Mấy đồng chí nữ các cô thật chẳng dễ dàng gì, có cần cái gì hay có việc gì tôi giúp được thì cứ việc nói.”
Nghe ông ấy nói thế, tôi cũng chẳng khách sáo, trực tiếp chìa tay ra.
“Đội trưởng, vậy chú có thể cho cháu xin ít bẫy chuột với ít sợi thuốc lá không ạ?”
Thiệu Giải Phóng nhíu mày, trợn to hai mắt nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ dò xét và phê bình.
“Cô là đồng chí nữ mà còn hút thuốc à?”
Biết rõ ông ấy hiểu lầm, tôi cũng chỉ mỉm cười giải thích.
“Trước khi xuống nông thôn, cháu từng làm việc ở trạm y tế nên biết kha khá mẹo dân gian. Dùng sợi thuốc lá này ngâm nước để đuổi muỗi, đuổi rắn cũng là một trong số đó.”
“Mấy người thanh niên tri thức kia cứ gào khóc đòi đi, không phải vì điều kiện trên đảo thực sự tồi tệ đến mức không sống nổi, mà là vì họ chưa tìm đúng cách thôi ạ.”
“Ở đây rắn rết, sâu bọ tuy nhiều, nhưng chỉ cần phun nước ngâm sợi thuốc lá này vào, muỗi sẽ không đốt nữa, rắn rết chuột bọ cũng tự khắc tránh xa.”
“Bẫy chuột thì cứ đặt ở góc tường, ban đêm ngủ sẽ bớt tiếng động đi.”
“Cháu không xin không sợi thuốc lá của chú đâu, cháu có tự mua một ít thuốc đuổi côn trùng, cháu đổi với chú. Đến lúc đó chú mang thuốc đuổi côn trùng với nước thuốc lá này chia cho mọi người một ít, để cả hội cùng được ngủ ngon giấc.”
“Đợi qua mấy ngày nữa, chúng ta trồng thêm ít ngải cứu với bạc hà xung quanh đây, muỗi sẽ càng ít đi.”
Tôi vừa nói vừa cầm chiếc ca tráng men ra múc nước trong chum ở góc tường để uống.
Tôi làm như vậy là có tính toán riêng của mình.
Thuốc đuổi côn trùng rồi sẽ có ngày dùng hết, nhưng chỉ cần có người hút thuốc thì sợi thuốc lá sẽ không bao giờ đứt đoạn.
Tôi muốn sống tốt trên hải đảo này, thì việc tạo mối quan hệ tốt với người của đội sản xuất là bước đi đầu tiên.
Nghe xong lời tôi nói, đôi lông mày đang nhíu chặt của Thiệu Giải Phóng cuối cùng cũng giãn ra.
“Thứ cô cần buổi tối tôi sẽ sai người mang qua.”
Nói xong, ông ấy quay người, sải bước dứt khoát rời đi.
Tôi nhìn dòng nước trong vắt trong chiếc ca tráng men, trong đầu thoáng chốc lại nhớ về những ngày tháng phải ăn tuyết để giải khát ở Đại Bắc Hoang kiếp trước.
Đầu ngón tay khẽ miết lên vành ca thô ráp, tôi đặt mạnh nó xuống bàn, phát ra một tiếng "cộc" trầm đục.
Tôi ngước mắt nhìn về phương Bắc, thấp giọng lẩm bẩm:
“Chu Minh Châu, Phó Đình An, hai người chắc cũng đã đến Đại Bắc Hoang rồi nhỉ.”
---
Ở một nơi khác, gió tuyết đang gào rú điên cuồng.
Gia đình họ Chu bị điều chuyển xuống nông trường Đại Bắc Hoang đang lầm lũi bám theo sau người hướng dẫn của đại đội, từng bước chân nông bước chân sâu chật vật lội qua lớp tuyết dày.
Chu Minh Châu khóc lóc suốt cả quãng đường, khuôn mặt cô ta sớm đã bị gió lạnh thổi cho tím tái, lúc này vừa đỏ ửng vừa sưng tấy, nứt nẻ từng vệt rớm máu.
Phó Đình An nắm chặt tay cô ta, đi ở phía trước để mở đường.
Lớp băng mỏng trên mặt tuyết vừa dẫm lên đã vỡ vụn, người Chu Minh Châu nghiêng ngả rồi sụt chân xuống một hố tuyết sâu, cô ta "úi chao" một tiếng rồi hất văng tay Phó Đình An ra, dứt khoát ngồi lì ra đó không chịu đi tiếp nữa.
“Tất cả là tại con khốn Chu Tuệ Hoan! Nếu không phải nó giở thủ đoạn đổi cái tên trên tờ báo tuyệt giao, thì tôi đã chẳng phải đến cái nơi quỷ quái này!”
Chu Định Quốc và mẹ Chu đi phía trước cũng dừng lại, ngồi bệt xuống một khúc cây khô bên đường, thở dốc hồng hộc.
Hơi thở nóng hổi vừa phả ra ngoài lập tức hóa thành màn sương trong không khí, ngưng tụ thành những lớp sương giá bám chặt trên lông mày, lông mi và râu tóc, khiến cả khuôn mặt trông bạc trắng xóa.
Chu Định Quốc không ngừng ho khục khặc, giữa đôi lông mày đã mất đi cái vẻ uy nghiêm của kẻ ngồi vị trí cao suốt bao nhiêu năm, thay vào đó là sự mệt mỏi và bất lực tột cùng.
Ông ta hùa theo con gái: “Nếu không phải vì thời gian quá gấp rút, tao nhất định phải bắt bằng được con Chu Tuệ Hoan kia về!
🧋Thấy truyện hay?Mời web một ly trà sữa để có thêm chương mới nha