Chương 1
1
Trước sự đồng ý của tôi, bố mẹ không chút ngạc nhiên.
Chị gái trái lại sững sờ mất hai giây, vành tai đỏ ửng lên.
Ăn cơm xong, tôi đi rửa bát, chị gái Khương Thư Hòa cuối cùng cũng không nhịn được mà hỏi trong phòng khách:
"Mẹ, con Tuyết coi anh Viễn Châu như báu vật, sao nó lại dễ dàng nhường hôn sự này cho con thế?"
Mẹ tôi nắm tay chị ta, dỗ dành: "Bây giờ người ta tôn trọng tự do hôn nhân, chuyện này sao có thể gọi là nó nhường cho con được?"
Bà liếc mắt nhìn ra ngoài sân, thấy tôi đang ngoan ngoãn rửa bát không chú ý tới đây, liền lắc đầu thở dài:
"Con nhìn cái dáng vẻ đó của nó xem, hôm qua đi chụp ảnh, người ta còn hỏi mẹ với nó có phải chị em không đấy."
"Mẹ bốn mươi lăm tuổi, nó còn chưa đầy hai mươi bảy, đúng là xấu mặt không để đâu cho hết."
"Ngày mai Viễn Châu đến nhà, nó mà nhìn trúng con Tuyết mới là lạ."
"Mẹ làm thế này là đang giữ chút thể diện cho nó đấy."
Khóe môi Khương Thư Hòa khẽ nhếch lên, nhưng trong đáy mắt không hề có ý cười, mà chỉ toàn là sự chế nhạo, khinh bỉ và coi thường không hề che giấu.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, đôi bàn tay ngâm trong dòng nước lạnh buốt đau đến thấu xương.
Ở vùng đất mặn phèn ấy, da dẻ cứ hễ mọc ra lớp da non nào là lại bị ăn mòn đến đó, lúc nào cũng đỏ hỏn như thịt tươi, chạm vào bông gòn cũng thấy đau điếng.
Mẹ tôi ở cùng tôi bao nhiêu năm qua, bà thừa hiểu tình trạng đôi tay tôi thế nào, vậy mà về đến thành phố bà vẫn bắt tôi rửa bát, chẳng nỡ để Khương Thư Hòa động tay vào việc nhà dù chỉ một chút.
Nhớ lại hồi mới đến biên thùy, bố mẹ vì không hợp khí hậu mà ngã bệnh nằm liệt giường.
Tôi cũng đầu váng mắt hoa, nôn mửa liên tục.
Trưởng thôn cho chúng tôi nghỉ vài ngày, tôi dần thích nghi được, nhưng bố mẹ thì mãi không khỏe lại.
Tôi đành phải thay bố mẹ làm việc, một mình gánh vác phần việc của hai người.
Đất đai ở vùng hoang mạc khô cằn và cứng như đá, rễ cỏ đan xen chằng chịt, mỗi nhát cuốc bổ xuống đều chấn đến mức lòng bàn tay tê dại, mà cũng chỉ để lại được một vệt mờ.
Ngày đầu tiên đi làm về, tay tôi nổi hơn mười cái mụn máu.
Việc đầu tiên mẹ làm khi nhìn thấy là lấy kim chọc vỡ chúng ra: "Chọc ra cho mau lành, tối nay mẹ rửa bát cho, ngày mai không được lười biếng đâu đấy."
Ngày thứ hai, lớp thịt da trầy trụa ngâm trong nước mặn chẳng khác gì bị vạn con kiến đục khoét, tôi cắn răng cũng không chịu đựng được đến cùng, cuối cùng ngất lịm đi vì đau.
Khi tỉnh dậy, mẹ đổ một thìa thuốc vào miệng tôi, rồi thẳng tay tát tôi một cú trời giáng:
"Thuốc con đang uống là do chị con mạo hiểm cả danh dự để gửi tới đấy."
"Nó bị chúng ta bỏ rơi, phải sống gửi thân nhờ phận nhà người ta mà trong lòng vẫn đau đáu muốn đóng góp một phần sức lực cho cái nhà này."
"Còn con thì sao? Mới làm việc được vài ngày đã hết mụn máu rồi lại ngất xỉu, đúng là hạng không chịu được khổ cực!"
Mãi đến kiếp trước lúc sắp chết, tôi mới biết đó là đòn khích tướng của mẹ.
Khương Thư Hòa chưa từng gửi bất kỳ viên thuốc nào, thậm chí khi tôi viết thư cầu xin thuốc không biết bao nhiêu lần, chị ta đều ngó lơ.
Bởi vì trước khi đi, mẹ đã ân cần dặn dò chị ta rằng, mọi lá thư từ biên thùy gửi về đều không cần quan tâm, chị ta chỉ việc yên tâm ôn tập, mọi việc đã có đứa em gái này lo liệu.
Họ ngầm hiểu với nhau, coi tôi như một chiếc bình máu, như một viên đá lót đường cho hành trình thăng tiến của Khương Thư Hòa.
Bố tôi đứng một bên, chẳng hề bênh vực tôi lấy một lời.
Chỉ khi mẹ ra ngoài, ông ta mới nhét nửa miếng bánh ngô vào tay tôi:
"Mẹ con là giáo viên, nghiêm khắc quen rồi, con đừng để bụng."
Ăn hết nửa miếng bánh ngô đó xong, trong nhà cũng chẳng còn lương thực dư thừa.
Tôi chỉ có thể cầm cuốc, vừa chảy máu vừa cắn răng, từng nhát từng nhát đào ra khẩu phần ăn cho cả ba người.
Vậy mà nửa năm sau, khi tôi cứ ngỡ bố mẹ đã thích nghi với môi trường và có thể san sẻ chút việc cho tôi, thì bố lại ngã từ xà nhà xuống.
Bác sĩ bảo ông bị thương vào xương, cần nằm yên tĩnh dưỡng, không thể thiếu người chăm sóc.
Việc chăm sóc ấy chẳng ai bàn bạc với tôi mà mặc nhiên giao cho mẹ.
Tôi không có lý do gì để tranh luận, chỉ có thể tiếp tục cắn răng chịu đựng.
Ban ngày tôi cày đất, đào mương, ủ phân, buổi tối lại về nấu cơm, rửa bát, dọn dẹp nhà cửa.
Mười ba năm khai khẩn, tôi đã đào đất cứng, sửa mương dẫn, gánh vác hết công việc của hai người lớn.
Khi ông chủ tiệm ảnh chỉ vào mẹ tôi và hỏi bà có phải em gái tôi không, não tôi như ngừng hoạt động mất vài giây.
Ngọn lửa giận dữ bùng lên, nhưng khi quay người nhìn vào gương, tôi thấy chính mình.
Làn da đen nhẻm, thô ráp.
Vóc dáng nhỏ thon, hai má hóp lại không có chút thịt.
Quần áo giặt đến bạc màu, trên quần còn chồng chất mấy lớp miếng vá.
Đứng cạnh Khương Thư Hòa, chúng tôi trông như người của hai thế giới khác nhau.
Chị ta tết tóc hai bên, mặc chiếc sơ mi kẻ ca rô thời thượng nhất, tay ôm bản vẽ của viện thiết kế, trông đúng chất một trí thức có học.
Còn tôi để kiểu tóc ngắn ngang tai cho tiện làm việc và gội rửa, trên người khoác chiếc áo vải thô bạc phếch, vá víu chằng chịt, tay xách mớ rau xanh và thịt lợn chuẩn bị cho bữa tối, chẳng khác gì một bà nông dân nghèo khổ.
Khương Thư Hòa khẽ lấy tay che miệng cười:
"Ông chủ, ông cứ đùa hoài, đây là mẹ cháu, còn đây mới là em gái ruột của cháu đấy ạ."
Ánh mắt ngỡ ngàng của ông chủ như một cái tát mạnh, giáng thẳng vào mặt tôi.
Đau đớn đến mức như rách da nát thịt.
Sau khi nén lại nỗi tự ti muốn độn thổ để chụp xong bức ảnh, tôi bước ra thì đã chẳng thấy bóng dáng mẹ và Khương Thư Hòa đâu nữa.
Về đến nhà nấu xong cơm tối, hai mẹ con họ mới xách lớn xách nhỏ trở về.
Trên người chị gái có thêm một chiếc áo vải pô-pơ-lin màu xanh da trời phối ren, lấp lánh dưới ánh đèn vàng nhạt, đâm vào mắt tôi đau nhói.
Mẹ tôi nói: "Chị con da trắng, mặc màu xanh mới đẹp, còn con vừa gầy vừa nhỏ, trong cửa hàng chẳng có bộ nào vừa size cả."
Bố tôi bồi thêm: "Thư Hòa những năm qua sống dưới mái nhà người khác chẳng dễ dàng gì, con làm em thì nên nhường nhịn chị một chút."
Tôi nghiến chặt răng, nước mắt suýt chút nữa trào ra.
Sự hy sinh bao nhiêu năm qua, chẳng lẽ đến một chiếc áo vải cũng không đổi lại được sao?
Và vị hôn phu của tôi, Cố Viễn Châu, khi gặp tôi vào ngày hôm sau cũng đầy vẻ ngỡ ngàng, không còn chút dịu dàng nào như xưa nữa.
Sau khi bước ra từ thư phòng của bố tôi, anh ta nói với vẻ vừa áy náy vừa xa cách:
"Tuyết à, chúng ta hủy hôn đi, coi như anh có lỗi với em."
"Thư Hòa là sinh viên đại học, chúng anh có nhiều chủ đề chung, quan điểm sống cũng hợp nhau, ở bên cô ấy anh mới thấy hạnh phúc."
"Em đừng oán hận cô ấy, chuyện tình cảm không thể gượng ép được."
Nghe xong, tôi cười đến chảy cả nước mắt.
Chị ta thì có gì mà không dễ dàng?
Chị ta vô ưu vô lo học xong tám năm, tốt nghiệp xong là vào ngay viện thiết kế, tương lai rộng mở cả đời.
Còn tôi làm lụng đến kiệt sức suốt mười ba năm, cơ thể tàn tạ, nhan sắc tàn phai, vì chưa học hết cấp hai nên đến cả những vị trí công việc nhẹ nhàng cũng không có phần!
Tôi thà rằng người phải đi ở nhờ năm xưa là chính mình!
Tôi tức đến run cả người, Khương Thư Hòa liền ôm lấy tôi, dịu dàng an ủi:
"Em gái, em muốn trách thì cứ trách chị, đừng trách anh Viễn Châu."
"Chị và anh ấy là chân tình, cầu xin em hãy thành toàn cho chúng chị!"
Mọi người đều nhìn chị ta với ánh mắt tán thưởng, khen ngợi sự lương thiện của chị ta, rằng dù biết rõ nhan sắc và học thức của mình vượt xa tôi nhưng vẫn sẵn lòng quan tâm đến cảm xúc của kẻ thất bại này.
Nhưng chẳng ai để ý thấy, Khương Thư Hòa lại ghé sát tai tôi nói những lời hoàn toàn khác:
"Em gái, chị nói cho em nghe chuyện này."
"Thật ra mười ba năm trước cả hai chúng ta đều ăn trúng trứng ốp đấy, chỉ là em ăn ở trên bàn, còn chị ăn trong bếp. Mẹ bảo nếu không phải vì em nhất định phải được ăn một quả thì cả hai quả đều là của chị rồi."
"Còn bát mì tối qua, chị có đến hai quả trứng, còn em thì chẳng có quả nào."
"Mẹ bảo, số em sinh ra là để chịu khổ, chị thì khác, chị là hạt giống để đi học, là người sẽ làm nên chuyện."
Hóa ra, bát mì trứng đó chẳng liên quan gì đến thưởng phạt, mà hoàn toàn là sự thiên vị triệt để của bố mẹ.
Mắt tôi long lên sòng sọc, nhưng chị ta lại ghì chặt lấy tôi:
"Những lá thư Cố Viễn Châu viết cho em đều bị chị chặn hết rồi, là chị chủ động tiếp cận anh ấy, khiến anh ấy dần dần yêu chị."
"Sớm biết em từ Tây Bắc về lại tàn tạ thế này, chị đã chẳng cần tốn công diễn kịch, vì hiện giờ em căn bản không xứng để so với chị."
"Trong một gia đình, chỉ có một đứa con được phép thành đạt, và người đó chỉ có thể là chị!"
Nói xong, chị ta lảo đảo lùi lại hai bước rồi lăn từ trên cầu thang xuống.
Mẹ tát tôi một cú cháy mặt: "Thư Hòa mà có chuyện gì, mẹ sẽ không tha cho con đâu!"
Bố thì đau đớn thốt lên: "Chỉ vì một người đàn ông mà ra tay đánh cả chị ruột, con còn là người nữa không!"
Cố Viễn Châu đầy thất vọng: "Chị em bảo tính tình em thay đổi lớn lắm anh còn không tin, giờ xem ra chị em còn nể mặt em chán, em độc ác quá!"
Tôi ôm mặt, hận thù trong lòng như những con sâu đục khoét vào tận xương tủy.
Nếu không có tôi, bố mẹ làm sao có thể nguyên vẹn trở về từ Tây Bắc?
Nếu không có tôi, Cố Viễn Châu đã mất mạng từ năm ba tuổi rồi.
Ngày hôm đó, tôi lật tung bàn ăn, như một con thú điên gào thét trút bỏ nỗi bất công kìm nén bấy lâu.
"Mẹ! Mẹ chỉ nhớ Khương Thư Hòa thích ăn lạc, nhưng mẹ không hề biết con bị dị ứng lạc! Con vào viện mười lần vì dị ứng, ba lần suýt chết mẹ có biết không?"
"Bố! Bố chỉ biết ôm Khương Thư Hòa vẽ tranh, còn với con thì chỉ toàn lời lạnh nhạt: 'Mày ngốc thế này, học vẽ chỉ phí thời gian, chi bằng làm việc nhà nhiều vào cho quen, sau này còn tìm được nhà nào tốt mà gả đi'. Đều là con gái ruột, dựa vào cái gì mà bố mẹ đối xử khác biệt như thế!"
"Cố Viễn Châu, chúng ta là thanh mai trúc mã, anh từng hứa không phải em thì không lấy, tôi chết cũng không đồng ý để anh cưới Khương Thư Hòa!"
Bố lặng lẽ nhìn tôi, như nhìn một đứa trẻ không hiểu chuyện:
"Tuyết à, con quá quắt lắm rồi! Chỉ vì một cuộc hôn sự mà làm loạn lên thế này, con còn ra dáng con gái không? Bố mẹ đối xử với hai chị em như nhau, chưa từng thiên vị, là do vận may của con kém không ăn trúng trứng, sao lại trút giận lên đầu chị con?"
"Bố bảo cho con biết, Viễn Châu không thích con, con bắt buộc phải thành toàn cho họ!"
Cuối cùng, tôi bị phạt nhốt biệt giam.
Bị nhốt trong căn phòng tối tăm không chút ánh sáng suốt sáu ngày.
Không ai đưa nước đưa cơm, tôi bị bỏ đói cho đến chết.
Trước khi nhắm mắt, tôi chỉ nghe thấy tiếng pháo nổ vang trời bên tai, mọi người đang chúc mừng đại hỷ của Khương Thư Hòa và Cố Viễn Châu.
Trong phòng, mẹ và Khương Thư Hòa vẫn đang thì thầm to nhỏ, thỉnh thoảng lại nhìn về phía tôi.
Tôi đặt bát đũa xuống, bước vào phòng mình.
Bắt đầu thức trắng đêm để tính toán sổ sách.
Sáng sớm tinh mơ, Cố Viễn Châu đã đưa bố mẹ anh ta đến nhà.
Bố tôi diện bộ đồ đại diện mới mua, trông rất mực nho nhã, mẹ và Khương Thư Hòa thì mặc bộ đồ vải pô-pơ-lin cùng tông màu, trông như hai chị em.
Còn tôi, chỉ có độc một chiếc váy liền không hề vừa vặn do Khương Thư Hòa tối qua bố thí cho với vẻ bề trên.
Giữa căn phòng đầy những trí thức được bảo dưỡng kỹ lưỡng, tôi trông thật lạc lõng.
Mắt của bố mẹ anh Cố gần như trợn ngược lên khi nhìn thấy tôi, Cố Viễn Châu cũng có ba phần không thể tin nổi, bảy phần là chán ghét.
Mãi cho đến khi nghe thấy mẹ tôi hồ hởi nịnh nọt: "Ông thông gia, thằng bé Viễn Châu này tôi đã quý từ nhỏ rồi, Thư Hòa nhà tôi mà lấy được nó, tôi chẳng biết phải vui thế nào cho xiết!"
Bà Cố mắt sáng rực lên: "Người gả đi là Thư Hòa sao?"
Mẹ tôi nắm lấy tay bà Cố, thở dài một tiếng, bày ra vẻ mặt khó xử:
"Tôi biết, ban đầu chúng ta định là con Tuyết, nhưng con bé đó số khổ, theo chúng tôi ở Tây Bắc mười ba năm, giờ thành ra thế này đây..."
"Cũng may nó là đứa hiểu chuyện, biết mình và Viễn Châu có khoảng cách nên đã chủ động đề nghị hủy hôn để thành toàn cho Thư Hòa và Viễn Châu, còn nói là muốn đi làm thuê để tự mình tích góp tiền sính lễ mà đi lấy chồng đấy!"
🧋Thấy truyện hay?Mời web một ly trà sữa để có thêm chương mới nha