Chương 2
Phụ thân nhìn ta hồi lâu rồi nói: “Những lời hôm nay của con, nếu truyền ra ngoài, danh tiếng sẽ bị tổn hại.”
Ta dập đầu: “Nữ nhi biết.”
“Thế mà con vẫn muốn làm vậy?”
“Muốn chứ.”
Phụ thân im lặng thật lâu, cuối cùng mới nói: “Trước hết mời đại phu đã.”
Thẩm Tri Nhu đột ngột nhìn sang phụ thân.
Lòng bàn tay ta áp trên nền gạch lạnh, nghe nhịp tim mình từng tiếng từng tiếng dần trở nên vững vàng.
Nhát dao đầu tiên, cuối cùng cũng rạch xuống.
3.
Đại phu đến rất nhanh.
Ông ngăn cách qua rèm, bắt mạch cho ta. Đầu ngón tay vừa đặt lên cổ tay, ta đã ngửi thấy mùi dược thảo nhàn nhạt trên tay áo ông, đắng đến mức khiến người ta tỉnh táo.
Thân thể ta quả thực yếu.
Kiếp trước sau khi rơi xuống nước không được điều dưỡng tử tế, gả vào Tạ gia lại ngày đêm lao lực, hàn khí ngấm sâu vào xương cốt, chưa đến ba mươi tuổi đã ho ra máu.
Đời này, mạch tượng không thể nói dối.
Đại phu thu tay, cân nhắc hồi lâu mới nói: “Nhị cô nương khí huyết hư nhược, tâm mạch phù, gần đây không nên hao tâm tổn thần, càng không thích hợp vội vàng cử hành đại lễ.”
Mẫu thân khó coi: “Có ảnh hưởng đến chuyện hôn sự không?”
Đại phu cúi đầu: “Nếu điều dưỡng nửa năm thì tự nhiên không đáng ngại. Nếu vội vàng thành hôn, đường sá, lễ nghi, quỳ bái, thức đêm, tất cả đều sẽ làm tổn hại thân thể.”
Phụ thân nói: “Viết phương thuốc.”
Thẩm Tri Nhu ngồi bên cạnh, khăn tay bị vò đến biến dạng.
Sau khi đại phu lui xuống, tỷ ấy bỗng đi đến trước giường ta: “A Hành, có phải muội cố ý không?”
Mẫu thân cau mày: “Tri Nhu.”
Nước mắt Thẩm Tri Nhu lăn xuống: “Mẫu thân, con không trách muội ấy. Con chỉ không hiểu, trước đây muội ấy luôn nghe lời con, sao hôm nay lại cứ câu nào câu nấy chọc vào lòng con. Muội ấy nói Tạ gia không tốt, nói tỷ muội cùng gả không tốt, nhưng muội ấy biết rõ con… con thật lòng mong tỷ muội chúng ta không phải xa nhau.”
Ta tựa vào gối, ngoài cửa sổ, nước đọng trên lá trúc rơi xuống máng đá từng tiếng một.
“Tỷ tỷ, tỷ mong tỷ muội chúng ta không xa nhau, là vì sợ ta rời khỏi tỷ sẽ sống không tốt, hay là sợ tỷ rời khỏi ta sẽ sống không tốt?”
Hơi thở tỷ ấy nghẹn lại.
“Muội nói linh tinh gì vậy?”
“Từ nhỏ tỷ đã sợ bóng tối, ban đêm phải có ta ở bên. Tỷ không thích tính sổ, tiền tiêu hàng tháng đều để ta ghi giúp. Tỷ thêu thùa không giỏi, chiếc khăn dâng cho mẫu thân, mũi kim cuối cùng cũng là do ta khâu. Tỷ chọc tổ mẫu tức giận, ta thay tỷ quỳ từ đường. Bây giờ lấy chồng, tỷ cũng muốn ta đi cùng.”
Mỗi một câu ta nói, sắc mặt tỷ ấy lại trắng thêm một phần.
Mẫu thân thoáng mất tự nhiên: “Tỷ muội với nhau, giúp đỡ lẫn nhau vốn là chuyện thường tình.”
Ta quay sang nhìn mẫu thân: “Nhưng mẫu thân có từng nghĩ rằng ta cũng sợ bóng tối, cũng sẽ mệt, cũng không muốn quỳ từ đường hay không?”
Trong phòng chỉ còn tiếng nước mưa theo mái hiên rơi xuống.
Thẩm Tri Nhu bật khóc: “Thì ra từ trước đến nay muội vẫn oán tỷ.”
Ta nhìn tỷ ấy. Trong lồng ngực không còn nóng, cũng chẳng còn chua xót, chỉ như có một lớp bụi mỏng phủ xuống.
“Ta không oán nữa.”
Tỷ ấy sững người.
“Tỷ tỷ, ta chỉ không muốn nữa thôi.”
Mấy chữ ấy vừa thốt ra, đầu lưỡi đã nếm được vị máu nhàn nhạt.
Ta cắn rách khoang miệng.
Mẫu thân đứng dậy: “Đủ rồi. A Hành đang bệnh, con về trước đi.”
Thẩm Tri Nhu không chịu đi: “Muội ấy bệnh sao? Rõ ràng muội ấy tỉnh táo hơn bất kỳ ai. Muội ấy tính cả đại phu, chặn cả lời Tần ma ma. Mẫu thân, chẳng lẽ mẫu thân không nhìn ra sao? Muội ấy chính là không muốn con sống tốt.”
Ta nhắm mắt.
Kiếp trước, lần đầu tiên tỷ ấy nói với ta câu này là ở hậu viện Tạ gia.
Ngày hôm đó Tạ Lâm Tự chắn giúp tỷ ấy khỏi sự dây dưa của một vị thúc phụ say rượu trong tộc. Tỷ ấy chạy đến tìm ta khóc, nói mình cũng không muốn như vậy, nhưng tình ý vốn chẳng phải thứ con người có thể làm chủ.
Ta hỏi tỷ ấy, vậy ta là gì?
Tỷ ấy khóc càng dữ hơn, nói A Hành, tại sao muội không chịu thành toàn cho ta? Có phải muội không muốn ta sống tốt hay không?
Thì ra có những lời tỷ ấy đã sớm biết cách nói, chỉ là kiếp trước ta nghe quá muộn.
Giọng phụ thân vang lên từ ngoài cửa: “Ai không muốn ai sống tốt?”
Thẩm Tri Nhu quay đầu, nước mắt vẫn còn vương trên mặt.
Phụ thân bước vào, trong tay cầm một tấm bái thiếp, sắc mặt lạnh lùng.
“Tạ gia gửi thư, nói nếu A Hành sức khỏe yếu thì hôn kỳ có thể hoãn. Nhưng ý Tạ phu nhân là Tri Nhu tuổi cũng không còn nhỏ, Tạ nhị công tử cũng nên định thân, chi bằng trước tiên định hôn sự giữa Tri Nhu và Tạ Minh Hành.”
Đôi mắt Thẩm Tri Nhu thoáng sáng lên, rồi lại cố gắng ép xuống: “Vậy còn A Hành?”
Phụ thân nhìn ta: “Tạ gia nói, trưởng tử Tạ Lâm Tự nguyện chờ nửa năm.”
Lòng ta chợt chùng xuống.
Bọn họ vẫn muốn giữ ta lại cho Tạ Lâm Tự.
Ta siết chặt góc chăn, đầu ngón tay trắng bệch.
Phụ thân nói: “Tạ gia đã cho đủ thể diện. A Hành, nếu con chỉ sợ hôn sự quá gấp, nay cũng nên yên tâm rồi.”
Mẫu thân thở phào: “Như vậy cũng tốt. Tri Nhu gả trước, có thể thay con thăm dò đường đi.”
Thẩm Tri Nhu bước tới, lại nắm lấy tay ta, đáy mắt mang theo ánh nước: “A Hành, muội xem, vẫn như trước mà. Muội cứ dưỡng thân thể, tỷ sẽ chờ muội ở Tạ gia.”
Lòng bàn tay tỷ ấy ẩm ướt, áp vào khiến xương cốt ta lạnh buốt.
Vẫn như trước.
Tỷ ấy gả Tạ Minh Hành, ta gả Tạ Lâm Tự.
Kiệu hoa không nhầm nữa, nhưng tình cảm vẫn sẽ sai.
Ta rút tay về, từng chữ từng chữ nói: “Phụ thân, điều ta nói không gả chính là không gả bất kỳ ai của Tạ gia.”
Mẫu thân bật dậy: “Thẩm Thanh Hành!”
Phụ thân nhìn chằm chằm vào ta: “Con có biết một khi nói câu này ra, sẽ không còn đường quay đầu hay không?”
Ta vén chăn xuống giường, chân trần chạm nền đất. Hơi lạnh từ lòng bàn chân thấm ngược lên sống lưng.
Ta quỳ thẳng người, trán áp xuống đất.
“Nữ nhi nguyện đến đạo quán Ngọc Thanh ngoài thành, chép kinh cầu phúc cho tổ mẫu nửa năm. Đại phu nói bệnh cũ của tổ mẫu có nguy cơ tái phát, nếu chút lòng hiếu thảo của tôn nữ có thể đổi lấy bình an cho người, vậy cũng coi như giữ được thể diện cho Thẩm gia.”
Hơi thở phụ thân khựng lại.
Bệnh cũ của tổ mẫu quả thực sẽ phát tác sau ba ngày.
Kiếp trước, bà suýt không qua khỏi, về sau nhờ một nữ y đạo cô ở đạo quán Ngọc Thanh dùng châm cứu mới cứu được một mạng.
Ta không thể nói mình biết trước tương lai.
Ta chỉ có thể đi trước một bước, biến con đường này thành con đường hiếu đạo.
Thẩm Tri Nhu cao giọng: “Muội thà đến đạo quán cũng không chịu cùng tỷ gả vào Tạ gia sao?”
Ta ngẩng đầu nhìn tỷ ấy.
“Phải.”
4.
Tổ mẫu phát bệnh vào sáng sớm ngày thứ ba.
Bà thở không thông, chén trà trong tay lăn xuống đất, mảnh sứ vỡ tung tóe. Nha hoàn trong phòng sợ đến bật khóc, mẫu thân chạy vào thì môi tổ mẫu đã tím tái.
Ta chạy đến Thọ đường, vừa bước vào đã ngửi thấy mùi thuốc nồng nặc hòa với mùi mồ hôi. Nước nóng trong chậu đồng bốc hơi trắng xóa, mấy bà tử cuống quýt chạy qua chạy lại.
Sắc mặt phụ thân xám ngoét: “Mau đi mời thái y!”
Ta quỳ bên giường: “Phụ thân, đạo cô Huyền Từ ở đạo quán Ngọc Thanh ngoài thành rất giỏi châm cứu. Năm ngoái bà ấy từng chữa bệnh cấp tính cho Lương lão phu nhân, nhất định sẽ đến nhanh hơn thái y.”
Phụ thân nhìn ta: “Sao con biết?”
Ta cụp mắt: “Mấy hôm trước con giúp tổ mẫu sắp xếp danh sách dầu hương, có nhìn thấy nhà họ Lương gửi tạ lễ.”
Điều này là thật.
Chỉ là kiếp trước ta chẳng để tâm, mãi đến khi tổ mẫu nguy kịch mới nghe người ta nhắc đến.
Phụ thân lập tức sai người đi mời.
Thẩm Tri Nhu đứng ngoài cửa, ngón tay bấu chặt khung cửa, sắc mặt trắng bệch.
Tỷ ấy không dám bước vào.
Tỷ ấy sợ tổ mẫu.
Tổ mẫu không thích tỷ ấy khóc lóc ỉ ôi, thường nói nữ nhi Thẩm gia không thể chỉ biết rơi nước mắt.
Kiếp trước sau khi tỷ ấy gả vào Tạ gia, lúc tổ mẫu bệnh nặng muốn gặp tỷ ấy, tỷ ấy chê đường xa trời lạnh, chỉ sai ta mang một chiếc áo choàng đến.
Về sau tổ mẫu qua đời, tỷ ấy khóc ngất trước linh đường, người người đều khen tỷ ấy hiếu thảo.
Đạo cô Huyền Từ đến nơi, vạt áo còn dính bùn đất trên đường núi. Hộp thuốc chưa kịp đặt vững, bà đã xắn tay áo, bắt đầu thi châm.
Mũi ngân châm lần lượt hạ xuống huyệt đạo, cổ họng tổ mẫu phát ra tiếng thở nặng nề.
Người trong phòng nín thở.
Qua thời gian một chén trà, tổ mẫu cuối cùng cũng ho ra một ngụm đờm đục.
Phụ thân phải chống tay lên cột giường, những đường gân xanh trên mu bàn tay cuối cùng cũng giãn ra.
Mẫu thân che miệng, nước mắt rơi xuống.
Ta quỳ trên nền đất, đầu gối bị gạch cấn đau, nhưng trái tim lại từng chút từng chút trở về đúng vị trí.
Sau khi tỉnh lại, tổ mẫu nhìn thấy ta đầu tiên.
Bà khẽ nâng tay.
Ta nắm lấy những ngón tay khô gầy của bà.
“Tổ mẫu.”
Giọng bà khàn khàn: “Là con mời người đến à?”
Ta gật đầu.
Phụ thân ở bên cạnh nói: “A Hành nói muốn đến Ngọc Thanh quán chép kinh cầu phúc cho mẫu thân, trước đây con chỉ cho rằng nó tùy hứng. Không ngờ nó lại nhớ đến chuyện này.”
Tổ mẫu khép mắt, khẽ nói: “Ngoan.”
Lúc này Thẩm Tri Nhu mới bước vào, nhào đến bên giường khóc: “Tổ mẫu, người dọa Nhu Nhi sợ chết khiếp.”
Tổ mẫu nhìn tỷ ấy, không rút tay lại, cũng không đáp lời.
Tiếng khóc của Thẩm Tri Nhu dần nhỏ đi, vẻ mặt trở nên khó xử.
Đạo cô Huyền Từ thu châm, nhìn ta một cái: “Nhị cô nương là người cẩn thận. Nếu bằng lòng ở lại đạo quán một thời gian, còn có thể theo bần đạo học chút dược lý, tốt hơn nhiều so với cứ nhốt mình trong phòng mà suy nghĩ lung tung.”
Phụ thân lập tức nắm lấy lời này: “Đạo trưởng thấy A Hành nên dưỡng bao lâu?”
“Ít thì ba tháng, nhiều thì nửa năm. Nền tảng thân thể nàng ấy yếu, nếu lại lao lực vì hôn lễ, về sau bệnh căn khó dứt.”
Phụ thân trầm ngâm.
Tổ mẫu bỗng lên tiếng: “Cho nó đi đi.”
Mẫu thân vội nói: “Mẫu thân, còn Tạ gia…”
Tổ mẫu liếc bà: “Nữ nhi Thẩm gia trước hết là một con người, sau đó mới bàn chuyện hôn sự. Nếu Tạ gia đến nửa năm cũng không chờ được, vậy thì không xứng cưới nữ nhi Thẩm gia ta.”
Cổ họng ta nghẹn lại, đầu ngón tay áp vào lòng bàn tay tổ mẫu, cố nén cảm giác chua xót đang dâng lên.
Kiếp trước tổ mẫu mất sớm.
Nếu người còn sống, có lẽ ta đã không phải chịu nhiều ấm ức ở Tạ gia đến vậy.
Nhưng khi ấy ta chỉ nghĩ đến việc giữ thể diện cho phụ mẫu, chưa từng một lần cầu xin người.
Thẩm Tri Nhu đứng bên giường, nước mắt đọng trên cằm, thấp giọng hỏi: “Tổ mẫu, vậy còn con?”
Tổ mẫu nhìn tỷ ấy: “Con muốn gả thì cứ gả. Nếu không muốn, cũng có thể chờ.”
Phụ thân nói: “Tạ gia đã sai bà mối truyền lời, hôn sự của Tri Nhu không tiện kéo dài nữa.”
Tổ mẫu ho hai tiếng: “Vậy cứ theo quy củ mà làm. Hôn thư phải viết rõ, sính lễ phải kiểm đủ, danh sách của hồi môn cũng đưa cho ta xem. Đừng để người ta nghĩ nữ nhi Thẩm gia nóng lòng muốn trèo cao.”
Ngón tay Thẩm Tri Nhu siết lấy khăn: “Nhu nhi đều nghe theo trưởng bối.”
Ta cúi đầu.
Tỷ ấy sẽ không chờ.
Tỷ ấy sợ Tạ Lâm Tự chờ ta nửa năm, sợ bản thân mất luôn cơ hội bước chân vào Tạ gia.
Tỷ ấy muốn vào cửa trước, rồi chờ ta bước vào cuộc cờ.
Nhưng ta sẽ không đi nữa.
Ba ngày sau, ta thu dọn hành lý đến Ngọc Thanh quán.
Xe ngựa dừng trước cửa phủ, Thanh Trúc đỡ ta lên xe.
Thẩm Tri Nhu đuổi theo, búi tóc hơi rối, trong tay nắm một chiếc túi thơm.
“A Hành.”
Ta dừng lại.
Tỷ ấy đưa túi thơm cho ta: “Muội mang theo đi. Trên núi thanh khổ, tỷ sẽ lên thăm muội.”
Ta không nhận.
Vành mắt tỷ ấy lại đỏ lên: “Đến đồ của tỷ muội cũng không cần nữa sao?”
Ta nhìn chiếc túi thơm ấy.
Kiếp trước sau khi ta chết, Tạ Lâm Tự lục thấy một chiếc túi thơm cũ trong hộp trang điểm của ta, hỏi nha hoàn thân cận tại sao đồ Thẩm Tri Nhu tặng lại được giữ ở đây.
Thanh Trúc nói, phu nhân quý trọng tình tỷ muội nên đã giữ nó nhiều năm.
Hắn im lặng hồi lâu, đặt túi thơm trở lại, rồi xoay người đi về viện của Thẩm Tri Nhu.
Khi ấy ta nằm trong quan tài. Nếu còn có thể cười, có lẽ ta đã cười đến bật máu.
Ta nói với Thẩm Tri Nhu: “Tỷ tỷ cứ giữ lấy đi. Đường đến Tạ gia xa, tỷ cần dùng hơn ta.”
Sắc mặt tỷ ấy biến đổi: “Muội nói vậy là có ý gì?”
Trước khi rèm xe buông xuống, ta nghe thấy giọng mình rất khẽ.
“Chúc tỷ tỷ được như ý nguyện.”
Bánh xe nghiền qua nền đá, bắn lên những vệt nước.
Cổng lớn Thẩm phủ dần dần lùi xa.
Ta vén một góc rèm, nhìn thấy Thẩm Tri Nhu đứng giữa gió sau mưa, chiếc túi thơm trong tay bị tỷ ấy siết đến biến dạng.
5.
Ngọc Thanh quán nằm giữa sườn núi Thanh Ngô ngoài thành.
Đường núi trơn trượt, xe ngựa không thể đi tiếp. Ta vịn tay Thanh Trúc, từng bước từng bước đi lên, đế giày dính đầy bùn, vạt áo bị cỏ cây quệt thành những vệt nước.
Trước cửa đạo quán treo một chiếc chuông đồng cũ. Gió thổi qua, tiếng chuông trầm đục va vào không gian.
Đạo cô Huyền Từ sắp xếp cho ta ở tiểu viện phía đông.
Trong phòng chỉ có một chiếc giường và một chiếc bàn. Ngoài cửa sổ trồng mấy luống dược thảo, mùi đất hòa cùng mùi lá cây, thanh sạch đến mức cay nồng.
Thanh Trúc đặt tay nải xuống, nhỏ giọng hỏi: “Cô nương thật sự muốn ở đây nửa năm sao?”
Ta xắn tay áo, lau lớp bụi trên mặt bàn.
“Ít nhất ở đến khi Tạ gia không còn chờ ta nữa.”
Vành mắt Thanh Trúc đỏ lên: “Trước đây nô tỳ luôn cảm thấy Đại cô nương đối xử với cô nương rất tốt. Nhưng mấy ngày nay nhìn lại, trong lòng nô tỳ cứ thấy nghẹn.”
Ta nhìn nàng ấy: “Nếu thấy nghẹn thì nhớ kỹ. Sau này đừng thay người khác khuyên ta nữa.”
Nàng ấy dùng sức gật đầu.
Cuộc sống trên núi giản dị thanh đạm.
Trời còn chưa sáng, ta đã theo người trong đạo quán gánh nước, phơi thuốc, chép kinh.
Ngón tay bị nước thuốc nhuộm vàng, vai lưng mỏi đến mức ban đêm trở mình cũng đau.
Nhưng mỗi ngày ta đều ngủ yên hơn kiếp trước ở Tạ gia.
Tạ gia rất nhanh gửi đến lá thư đầu tiên.
Không phải thư của Tạ Lâm Tự, mà là của Tạ phu nhân.
Trong thư nói ta hiếu thảo đáng quý, Tạ gia nguyện chờ. Đợi ta dưỡng khỏe thân thể rồi sẽ chọn ngày lành.
Đọc xong, ta đặt thư dưới quyển kinh.
Bảy ngày sau, lá thư thứ hai đến.
Là của Thẩm Tri Nhu.
Tỷ ấy nói hôn kỳ đã định vào mùng sáu tháng năm. Tạ nhị công tử đích thân đến Thẩm gia đưa một hộp trân châu, ai cũng khen tỷ ấy có phúc.
🧋Thấy truyện hay?Mời web một ly trà sữa để có thêm chương mới nha