Chương 2
Đến năm thứ ba, giờ thì con sông kia cũng sắp cạn trơ đáy, chết đói đã trở thành chuyện cơm bữa.
Trưởng thôn cử người canh giữ con sông đó, mỗi nhà mỗi ngày chỉ được chia hai bát nước.
Bố tôi lúc nãy chính là đi cầu xin trưởng thôn, nhà có bốn miệng ăn liệu có thể châm chước cho thêm chút nước không.
Trưởng thôn lại nói: "Kiến Nghĩa à, đôi khi không cần phải cứng nhắc như thế."
"Nghĩ thông suốt rồi thì có thể đến chỗ tôi dùng thịt đổi nước."
"Đến lúc đó tôi chia cho anh nhiều hơn một chút, nhà anh cũng bớt gánh nặng, phải không nào?"
Bố không tranh cãi với trưởng thôn, chuyện này trong thôn đã trở thành "luật ngầm", chỉ là bố mẹ không nỡ bỏ tôi và anh trai.
Thật ra những chuyện này, tôi ít nhiều đều biết, nhưng tôi nghĩ mãi không thông, những người dân làng từng hòa thuận vui vẻ sao lại biến thành ác quỷ ăn thịt người?
Đều là bà con lối xóm ngẩng đầu không thấy cúi đầu gặp, sao có thể xuống miệng cho được?
Mẹ tôi bảo, việc này muốn kể thì phải kể từ một chuyện cũ.
4.
Năm ngoái, có một người đói quá không chịu nổi, bèn đến miếu Quan Âm lạy Phật bà.
Ngày hôm sau, sau lưng tượng Quan Âm thực sự xuất hiện một lớp bột trắng dày.
Ban đầu ông ta tưởng Quan Âm hiển linh ban bột mì cho bách tính, cảm động đến rơi nước mắt mà tạ ơn.
Ông ta cạo lớp đất đó xuống, cất đi để ăn dần, thậm chí còn để lại bột trắng cho những người cần.
Không ngờ, những người ăn đất Quan Âm, chẳng bao lâu sau đều chết vì bụng trướng phình, đau đớn tột cùng.
Người trong thôn cảm thấy Bồ Tát trêu đùa họ, bèn đập tượng Quan Âm, đốt miếu Quan Âm.
Hôm phá miếu, phần lớn người trong thôn đều đi, vai vác cuốc, vác liềm.
Kẻ phá cửa, người dỡ cửa sổ. Chẳng mấy chốc ngôi nhà che mưa chắn gió cho Bồ Tát đã nát bươm.
Họ bèn nhắm vào tượng Bồ Tát.
"Bồ với chả Tát, Bồ Tát cái chó gì!"
"Ông đây sắp chết đói rồi cũng chẳng thấy ai thương xót chúng tôi."
"Uổng công bao năm nay ăn hương ăn hỏa!"
Dân làng lòng đầy căm phẫn hùa theo, cứ như thể họ chính nghĩa lắm vậy.
Mấy người này càng nói càng kích động, bổ một cuốc lên tượng đất.
Bồ Tát cụp mắt nhìn xuống, dáng vẻ dường như có hơi đau lòng.
Hôm đó bố tôi giả bệnh không đi.
Tin Bồ Tát cả một đời, giờ cứ thế tự tay phá hủy, ông không nỡ.
Mẹ tôi nấp ở cách đó không xa lén nhìn họ đập nát thân Phật bà, còn có người đá đầu Phật bà qua lại.
Đầu Phật bà dính đầy bùn bẩn, trông có chút dữ tợn đáng sợ.
Kể từ ngày hôm đó, đám đông mất đi tín ngưỡng, trong cơn đói khát tột cùng đã chẳng còn kiêng kỵ gì nữa, họ chọn cách ăn thịt người.
Ban đầu là ăn xác người chết đói, ăn hết rồi thì ăn đến người sống.
Tôi nghe mà rùng mình run lẩy bẩy, bỗng nhớ tới lời của lão già Triệu.
"Mẹ, mẹ còn nhớ anh trai nhỏ nhà ông Triệu không? Anh ấy..."
"Lão chó Triệu đó không phải là người, nướng cả cháu ruột mình rồi còn gọi dân làng đến ăn." Bố tôi tức giận siết chặt nắm đấm.
"Cũng gọi cả bố ạ?"
"Bố mày đâu dám đi, bố đâu dám ăn thịt người, hơn nữa ăn của lão Triệu rồi, hôm nào lão đến đòi ăn thịt nhà mình thì sao?"
Bố gõ gõ cái tẩu không có thuốc, rít khan vài hơi.
"Giá mà mấy tảng đá kia không chặn kín đường thì tốt quá, chúng ta có thể đi đến nơi khác."
Anh tôi xung phong: "Ngày mai con lại đi xem xem có tìm được đường khác không."
Mẹ tôi chẳng cần suy nghĩ đã từ chối, nhưng anh tôi lại khác hẳn ngày thường mà cãi lại.
"Bị ăn thịt cũng là chết, chết đói cũng là chết, có khác gì nhau đâu!"
Mẹ tôi không nói gì nữa.
Liên tiếp nửa tháng, anh trai ủ rũ trở về nhà, có khi người ngợm bẩn thỉu, mặt mày còn bị thương.
Mẹ tôi xót xa nước mắt lưng tròng: "Dũng à, đừng đi nữa."
"Mẹ, ở nhà còn an toàn không?"
Đã không còn an toàn nữa rồi, trong thôn đã có người nhắm đến anh em tôi.
Ngày nào cũng có người đến nhà làm thuyết khách, thuyết phục bố mẹ tôi ném chúng tôi vào chảo dầu sôi sùng sục hay cái xửng hấp nóng hầm hập, để giúp họ sống thêm ít ngày.
5.
Trời vừa sáng, anh trai lại chạy ra ngoài.
Mẹ thay bộ quần áo ngày thường không nỡ mặc, búi tóc gọn gàng, còn đặc biệt "xa xỉ" dùng nước rửa mặt.
Bố mặc bộ đồ ngày thành thân, cạo râu rửa mặt sạch sẽ.
Tôi có chút tò mò không biết có chuyện vui gì.
"Đợi anh con về rồi cùng nói."
Họ ăn mặc hỉ hả như có chuyện vui, còn đem hết lương thực dành dụm nửa năm nay ra nấu sạch một lần, nhưng trên mặt lại chẳng thấy nửa nụ cười.
Bình thường anh trai đều về nhà buổi trưa, nhưng hôm nay chúng tôi đợi mãi, đợi mãi, đợi đến tận hoàng hôn, anh cũng chưa về.
Mẹ tôi sốt ruột, nước mắt cứ thế tuôn rơi.
"Thằng Dũng không phải bị nhà nào bắt mất rồi chứ?"
"Cả nhà chúng ta muốn đi cùng nhau cho đông đủ cũng không được sao?"
Bố tôi ra ngoài tìm một vòng, khi trở về chỉ có một mình, bóng dáng vô cùng cô độc.
Mẹ tôi gần như sụp đổ, run rẩy bưng mâm cơm đã nguội ngắt ra.
"Ăn đi, ăn đi, ăn xong là có thể đoàn tụ với thằng Dũng rồi."
Trên bàn ăn ba người im lặng một hồi, không ai động đũa.
Mẹ tôi bỗng như phát điên, bốc một nắm rau nhét vào miệng.
Nhưng bố đã nắm chặt lấy cổ tay mẹ.
"Đợi thêm chút nữa, nhỡ thằng Dũng không sao, nó trở về thì biết làm thế nào?"
Nói xong bố lại khoác áo đi đến nhà trưởng thôn.
"Trẻ con đi lạc à?" Trưởng thôn đảo mắt láo liên.
"Nuôi con nít chẳng bớt lo tí nào, lúc này rồi còn nghịch ngợm chạy đi chơi, chi bằng..."
Bố tôi ngắt lời trưởng thôn: "Thằng Dũng nó ra ngoài tìm cái ăn."
Trưởng thôn cười khẩy một tiếng.
"Kiến Nghĩa, anh hèn đến mức này rồi sao? Để một đứa trẻ con ra ngoài kiếm ăn?"
Thấy bố tôi không nói gì, ông ta cũng không mỉa mai nữa: "Có điều, đúng là phải tìm xem sao."
Ông ta nào có tốt bụng muốn giúp tìm trẻ con?
Ông ta là sợ có người ăn mảnh, không báo cáo.
Trước đây đều là nhà nào góp thịt thì trưởng thôn sẽ lên kế hoạch.
Bao nhiêu thịt ăn hôm nay, bao nhiêu ăn ngày mai, còn lại bao nhiêu làm thành thịt khô để dành ăn sau.
Trưởng thôn dẫn bố tôi đi tìm một vòng, đi khắp những nhà hiện còn người sống, nhưng không thấy anh trai.
Bố tôi thầm thở phào nhẹ nhõm, ít nhất cũng biết anh ấy chưa bị người trong thôn bắt làm thịt.
Bị trưởng thôn nói bóng gió châm chọc một hồi, bố tôi bèn về nhà.
Mẹ tôi cũng thở phào: "Thằng bé rốt cuộc đi đâu rồi?"
Mẹ tôi cũng muốn ra ngoài tìm, nhưng lại không yên tâm để tôi ở nhà một mình.
Mắt thấy trời đã tối đen, bố lại định ra cửa, đúng lúc này, cánh cửa kẽo kẹt mở ra.
"Mẹ, con về rồi."
Anh nói chuyện có chút dè dặt, trên lưng vác một cái bao tải gai.
"Cơm tối nay sao ngon thế ạ?" Anh tôi nhìn thức ăn, lại nhìn bố mẹ, nghi ngờ hỏi.
"Sao con đi cả ngày không về?" Mắt mẹ tôi trong chốc lát lại đỏ hoe.
"Con, con gặp được thần tiên!"
Anh tôi ấp úng.
Bố mẹ ngẩn người: "Làm gì có thần tiên nào?"
Anh tôi không nói gì, tự mình đặt cái bao tải trên lưng xuống.
Bên trong lộ ra từng chiếc màn thầu to tròn, trắng như tuyết!
6.
Bố mẹ kinh ngạc tột độ, truy hỏi anh trai màn thầu ở đâu ra.
Mấy ngày nay anh trai đều đến đầu thôn tìm đường ra, nhưng đâu có dễ dàng như vậy?
Sau khi đầu thôn bị đá tảng chặn lại, không phải dân làng chưa từng thử mở đường.
Nhưng dù là đào hay đập, tảng đá lớn vẫn trơ trơ bất động, chẳng hề có chút dấu vết hư hại nào.
Có người đề nghị đào đường hầm qua, nhưng dù đào thế nào cũng sẽ quay lại trong thôn, trở về điểm bắt đầu.
Cũng có người đi đường vòng, trèo đèo lội suối muốn rời đi.
Nhưng đi mấy tốp người, cuối cùng thi thể của họ đều được tìm thấy ở ven làng.
Dân làng không ai nói ra, nhưng trong lòng đều hiểu rõ.
Cái thôn này như bị thế lực nào đó giam cầm, hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài.
Dần dần, người trong thôn dường như không còn chấp niệm ra ngoài lớn như vậy nữa, chẳng còn ai đến đầu thôn tìm tòi.
Cho nên khi anh trai lấy màn thầu ra, bố kích động túm lấy anh.
"Dũng, con thật sự tìm được đường ra rồi sao?"
Anh tôi lắc đầu.
Bố mẹ càng tò mò hơn: "Vậy con lấy đâu ra màn thầu tươi mới thế này?"