Chương 4
Tạ Hành tháo dải vải bịt mắt: “Tỉnh rồi?”
Ta đưa nửa miếng bánh hạt dẻ cuối cùng cho hắn: “Ngày mai nếu ta bắn không trúng, chàng lại tính giúp ta một lần.”
“Được.”
“Nếu vẫn không trúng thì sao?”
“Ta đứng sau bia làm bia cho nàng.”
Ý hắn là ta nhất định sẽ bắn trúng hắn.
Ta không nhịn được bật cười, hắn cũng cúi đầu cười theo.
Ánh nắng sớm rơi trên gương mặt nghiêng của hắn, ta bỗng cảm thấy người này dường như còn đẹp hơn đêm tân hôn một chút.
Có lẽ vì cùng nhau thức hai đêm nên đã thức ra được chút giao tình.
Còn vì sao tim lại bắt đầu loạn nhịp, chắc hẳn là do ngủ quá ít.
Tạ Hành nhìn ta chốc lát, nhận lấy nửa miếng bánh trong tay ta rồi cắn ngay vào chỗ ta đã cắn.
Lần này đến lượt ta ra ngoài sân hóng gió.
Để giữ thể diện cho hai người cha, hắn đến tính mạng cũng dám đặt vào.
Ta vô cùng cảm động, quyết định ngày mai cố gắng bắn chuẩn hơn một chút.
07
Cuộc tỷ thí được tổ chức tại giáo trường trong cung.
Tây Lăng cử một đôi huynh muội, huynh trưởng giỏi thi văn, muội muội giỏi cưỡi ngựa bắn cung, cả hai đều rất nổi danh ở nước mình.
Quy tắc rất đơn giản.
Người bắn tên bịt mắt, ba tấm bia đồng đồng thời xoay chuyển, đồng bạn gõ chuông đồng treo bên bia để báo vị trí.
Sau khi bắn xong, người còn lại phải lấy cảnh trước mắt làm đề, đi bảy bước thành thơ.
Huynh muội Tây Lăng lên trước.
Công chúa Tây Lăng liên tiếp bắn trúng hai bia, mũi tên thứ ba sượt qua hồng tâm rồi rơi xuống.
Huynh trưởng của nàng sau đó làm thơ, cũng giành được tiếng khen đầy điện.
Đến lượt ta, bốn phía giáo trường bỗng im lặng.
Cha ta đứng đầu hàng văn thần, trên mặt treo một vẻ tin tưởng mù quáng.
Trấn Quốc công cũng chẳng khá hơn, thậm chí đã bắt đầu kể cho đại thần bên cạnh chuyện cũ ta mười ba tuổi bắn nhạn.
Lời nói dối đã được nói quá lâu, có lẽ chính ông cũng tin là thật.
Tạ Hành giúp ta bịt mắt, lại đặt cung vào tay ta.
Lòng bàn tay hắn phủ lên mu bàn tay ta, dẫn ta nâng cung đến vị trí thích hợp: “Chú ý nghe tiếng chuông.”
Ta gật đầu.
Tấm bia đồng thứ nhất xoay đến chính giữa, Tạ Hành gõ chiếc chuông bên trái.
Tiếng chuông trong trẻo truyền đến, ta kéo cung bắn tên.
Đầu mũi tên đập vào bia đồng, phát ra một tiếng trầm đục.
Bốn phía vang lên tiếng reo hò.
Tiếng chuông thứ hai ở phía trước bên phải.
Ta xoay người, lại bắn tên.
Mũi tên thứ hai cũng trúng.
Trấn Quốc công kích động vỗ lên vai cha ta một cái.
Cha ta đứng không vững, suýt nhào vào lòng vị đại thần phía trước.
Sau khi đứng lại, ông thản nhiên gạt tay Trấn Quốc công ra như chưa có chuyện gì.
Tấm bia đồng cuối cùng xoay nhanh nhất.
Khi tiếng chuông vang lên, trên giáo trường vừa hay có một trận gió thổi qua.
Ta xoay người theo tiếng chuông, đang định thả dây cung thì Tạ Hành giữ cổ tay ta, kéo sang phải nửa tấc.
“Bây giờ.”
Ta lập tức bắn tên.
Tấm bia đồng thứ ba theo tiếng mà dừng lại.
Mũi tên nằm bên cạnh hồng tâm, tuy không trúng chính giữa nhưng rốt cuộc cũng không trượt bia.
Ta tháo dải vải bịt mắt, hạ giọng hỏi hắn: “Như vậy cũng được tính sao?”
“Quy tắc chỉ nói phu thê hợp sức, không nói phải hợp thế nào.”
Có lý.
Dù sao cha ta và Trấn Quốc công khoác lác bao nhiêu năm, cũng chưa từng nói không thể nhờ người khác giúp biến lời khoác lác thành thật.
Đến lượt Tạ Hành làm thơ, sứ thần Tây Lăng chỉ về cánh hồng mai vừa rơi bên giáo trường, bảo hắn lấy hoa mai làm đề.
Tạ Hành bước về phía trước bảy bước.
Ta đã chuẩn bị tinh thần nghe hắn viết hoa mai thành cảnh hai quân giao chiến, nhưng đến bước cuối cùng, hắn lại dừng chân quay đầu nhìn ta.
“Tuyết rơi trên hồng mai,
Gió đến hương đầy viện.
Bẻ cành không nơi tặng,
Người đã ở bên ta.”
Giáo trường im lặng chốc lát.
Hoàng hậu bật cười trước, công chúa Tây Lăng cũng vỗ tay khen hay.
Cha ta đầy vẻ vui mừng, có lẽ cảm thấy câu cuối của Tạ Hành đang khen con gái ông.
Chỉ mình ta biết, bài thơ này không phải bất kỳ bài nào đã được dạy trong ba ngày qua.
Tạ Hành đi trở về, lấy khỏi tóc ta một cánh hồng mai chẳng biết rơi xuống từ lúc nào: “Cuối cùng cũng không có quân địch.”
Vành tai ta khẽ nóng lên, bèn cố ý trêu chàng: “Chàng đi bảy bước mà chỉ làm được bốn câu thơ, vậy ba bước còn lại chẳng phải đã phí mất rồi sao?”
“Dùng để ngắm nàng.”
Vành tai hắn cũng đỏ, nhưng đứng trước ánh mắt cả giáo trường vẫn không né tránh.
Người này bỗng dưng thông suốt, thật sự có chút khó đối phó.
Cuộc tỷ thí cuối cùng được tính là hòa.
Sứ thần Tây Lăng khen Đại Thịnh nhân tài đông đúc, lại nói phu thê chúng ta phối hợp ăn ý.
Hoàng đế long nhan đại duyệt, tại chỗ ban cho Tạ Hành một thanh bảo kiếm, lại ban cho ta một cây cung mới.
Cha ta cảm thấy tiễn thuật của ta đã giành thể diện cho Đại Thịnh, công lao là lớn nhất.
Trấn Quốc công cho rằng nếu không có Tạ Hành chỉnh hướng giúp ta vào phút cuối, mũi tên thứ ba của ta đã bay khỏi giáo trường.
Hai người từ giáo trường cãi đến cổng cung, cuối cùng lại cãi vào tận Ngự thư phòng.
Ban đầu hoàng đế còn vui, nhưng nghe nửa canh giờ, nụ cười trên mặt dần dần biến mất.
Ta và Tạ Hành đứng ngoài điện, nghe tiếng chén trà đặt mạnh xuống bàn bên trong, đồng thời dừng bước.
Ta hỏi: “Còn cứu được không?”
Tạ Hành đáp: “Cứ để họ cãi thêm một lát.”
Xem ra bị cha ruột ép khổ luyện hơn mười năm, hắn cũng không phải hoàn toàn không có oán khí.
Chúng ta ngồi dưới hành lang ăn hết một đĩa bánh hoa quế do Ngự thiện phòng đưa tới, sau đó mới sóng vai bước vào Ngự thư phòng.
Hai người cha đã từ so con cái chuyển sang so bản thân.
Trấn Quốc công nói Tạ gia nhiều đời luyện võ, lúc trẻ ông cũng có thể trăm phát trăm trúng.
Cha ta nói Thẩm gia đầy nhà tài tử, ba tuổi ông đã có thể ngâm thơ.
Hoàng đế mặt không biểu cảm ngồi ở vị trí trên cao.
Ta bỗng cảm thấy, nếu cha thương ta, ta cũng nên giúp ông dương danh một phen.
08
Ta đi vào giữa điện, hành lễ với hoàng đế: “Bệ hạ, lời cha chồng thần nói không sai.”
“Người không chỉ võ nghệ cao cường mà còn văn tài xuất chúng, đi ba bước đã có thể thành thơ.”
Giọng Trấn Quốc công đột ngột im bặt.
Cha ta lập tức quay đầu nhìn ta, trong mắt tràn đầy tán thưởng.
Ngay sau đó, Tạ Hành cũng lên tiếng: “Nhạc phụ cũng là người văn võ toàn tài, có thể dùng tay không bổ đôi đá xanh.”
Nụ cười trên mặt cha ta biến mất.
Trấn Quốc công cuối cùng cũng phản ứng lại: “Không sai!”
“Thẩm Hạc Niên lúc trẻ được xưng là Thiết Chưởng Thám Hoa, một chưởng hạ xuống, bàn đá cũng phải nứt làm đôi.”
Cha ta cũng không chịu một mình chịu tội: “Bài thơ Tạ Sùng viết năm ấy truyền khắp biên ải, quân địch nghe xong không đánh mà lui!”
Nói xong, sắc mặt cả hai người đều chẳng dễ coi.
Hoàng đế lại lập tức hứng thú.
Ba ngày sau chính là tiệc Vạn Thọ, người lập tức quyết định để cha ta biểu diễn tay không bổ đá, còn Trấn Quốc công tại chỗ làm thơ trợ hứng cho yến tiệc.
Bốn người chúng ta cùng đi ra khỏi Ngự thư phòng.
Đến cổng cung, cha ta cuối cùng không nhịn được: “Chiêu Chiêu, từ bao giờ cha con biết bổ đá?”
“Còn ba ngày.”
Ta trả nguyên câu năm xưa của ông lại cho ông.
Ở bên kia, Trấn Quốc công cũng đang hỏi Tạ Hành: “Bài thơ nào của bổn công từng truyền khắp biên ải?”
Tạ Hành đáp: “Người viết một bài ngay bây giờ, ba ngày sau sẽ truyền được.”
Đêm hôm ấy, hậu sơn lại náo nhiệt.
Cha ta đứng trước một tảng đá xanh vận khí, Trấn Quốc công ngồi bên cạnh cắn cán bút.
Hai lão già làm đối thủ không đội trời chung suốt bốn mươi năm, đây là lần đầu tiên yên tĩnh ngồi cạnh nhau như vậy.
Cha ta nâng tay phải, khoa tay trước tảng đá hồi lâu nhưng mãi không dám hạ xuống: “Chiêu Chiêu, tảng đá này do ai chọn?”
“Tạ Hành.”
“Có thể đổi một tảng khác không?”
“Đổi thứ gì?”
“Đậu phụ cũng là đá, đá đậu phụ.”
Tạ Hành chuyển đến một phiến đá mỏng hơn: “Nếu nhạc phụ cố bổ vỡ, tay chắc chắn sẽ đau, trước hết luyện với phiến này.”
Cha ta nghe vậy, hài lòng liếc Trấn Quốc công: “Rốt cuộc vẫn là con rể, biết thương người.”
Trấn Quốc công ném bút xuống: “Đó là con trai ta!”
Hai người suýt lại đánh nhau.
Ta vội ấn Trấn Quốc công trở lại ghế đá, bảo ông tiếp tục làm thơ.
Trấn Quốc công cầm bút viết:
“Tiệc Vạn Thọ kín người,
Bệ hạ ngồi giữa nơi.
Văn võ cùng mừng thọ,
Ai không lạy bất trung.”
Cha ta đọc xong, quên cả đau tay, cười đến suýt lăn khỏi phiến đá.
Trấn Quốc công thẹn quá hóa giận: “Ông giỏi thì ông làm đi!”
Cha ta nhận bút, sửa câu cuối thành: “Thịnh thế thái bình, xuân vạn niên.”
Cuối cùng cũng miễn cưỡng có vài phần dáng vẻ của thơ chúc thọ.
Trấn Quốc công lại cầm tay ông, dạy ông cách phát lực khi bổ đá.
Một người dạy thơ, một người dạy võ, giày vò tròn ba ngày.
Ta và Tạ Hành ngồi bên cạnh ăn điểm tâm.
Bánh đường quá ngọt, ta chỉ cắn một nửa rồi thuận tay đưa phần còn lại đến bên miệng Tạ Hành.
Hắn cúi đầu ăn, động tác tự nhiên như thể đã làm rất nhiều lần.