Chương 2
Lâm Hương Ngọc đứng bên cạnh, mặt trắng bệch vì sợ, nhưng vẫn cứng miệng: “Bà ta tự ngã, không liên quan đến ta.”
Ta đi cáo quan.
Ta quỳ trước nha môn, dập đầu đến khi trán rướm máu. Thế nhưng huyện lệnh đã nhận bạc của Lâm gia. Ngỗ tác nói nương ta tự ngã, đập đầu mà chết. Hàng xóm láng giềng không ai dám làm chứng.
Người Lâm gia đứng ngoài nha môn nhìn ta. Lâm Hương Ngọc trốn trong xe ngựa, vén rèm lên, mỉm cười với ta.
Nàng ta nói: “Đáng đời.”
Ta không chịu đi. Ta quỳ trước nha môn suốt một ngày một đêm.
Đến đêm hôm sau, có người từ phía sau bịt miệng ta. Ta giãy giụa, đấm đá, thậm chí cắn rách tay kẻ đó, nhưng ta quá nhỏ bé.
Bọn chúng nhét ta vào xe ngựa, đưa thẳng đến Kim Ngọc Lâu ngay trong đêm.
Tú bà vuốt ve mặt ta, cười đầy hài lòng: “Dung mạo này đẹp đấy. Nuôi thêm vài năm, nhất định bán được giá cao.”
Ta khóc lóc nói mình không tự nguyện đến đây, ta muốn tìm nương, muốn báo quan.
Tú bà tát ta một cái, khiến tai ta ù đi.
“Đã vào nơi này rồi, còn muốn giữ thân trong sạch mà ra ư?”
Từ đó về sau, Thẩm Chiêu Chiêu đã chết.
Người sống sót là cô nương Chiêu Chiêu của Kim Ngọc Lâu.
Ta bị ép học cách không khóc, học cách che mặt khi bị đánh, học cách mỉm cười trước mặt khách nhân. Ta cũng học được cách giấu nỗi hận vào nơi sâu kín nhất trong lòng.
Cho đến hôm nay, ta lại nghe thấy Lâm Hương Ngọc nũng nịu gọi: “Tiểu Thanh ca.”
Nàng ta vẫn là Lâm tiểu thư, vẫn mặc y phục đẹp, ngồi trong xe ngựa xa hoa, được người bảo vệ, được người nâng niu.
Còn nương ta, đến một câu công đạo cũng không có.
Ta ngồi trước bàn trang điểm, từng chút một tẩy đi lớp phấn son đậm trên mặt. Gương mặt trong gương dần trở nên thanh tú, mộc mạc.
Ta nhìn mình, khẽ nói: “Nương, con sẽ không chờ nữa.”
Ta muốn cướp đi người mà Lâm Hương Ngọc muốn gả.
Ta muốn mượn Thẩm Thanh Từ để điều tra những chuyện khuất tất của Lâm gia.
Ta muốn Lâm Hương Ngọc quỳ xuống, muốn Lâm gia sụp đổ.
Sáng hôm sau, ta thay y phục giản dị, búi tóc đơn sơ. Xuân Đào nhìn ta, khẽ nói: “Cô nương ăn mặc thế này, trông chẳng khác nào tiểu thư nhà địa chủ ở thôn quê.”
Thẩm Thanh Từ mặc trường sam màu nguyệt bạch, dung mạo thanh tú, thần sắc điềm đạm. Chàng cầm một hộp bánh hoa quế, vừa bước ra khỏi tiệm bánh.
Ta đứng bên cửa. Khi chàng đi đến trước mặt, ta cố ý xoay người, để vai va vào cánh tay chàng. Thỏi mực trong tay ta thuận thế quệt lên vạt áo, lập tức để lại một vệt đen trên nền vải nguyệt bạch.
Tiểu đồng bên cạnh chàng kinh hô: “Cô đi đứng kiểu gì vậy?”
Ta như bị dọa sợ, vội lùi lại, cúi đầu hành lễ: “Công tử thứ tội, là ta sơ ý.”
Thẩm Thanh Từ cúi xuống nhìn vạt áo. Tiểu đồng hạ giọng: “Công tử, đây là y phục lão phu nhân đích thân sai người may…”
Ta lập tức ngẩng đầu, ánh mắt đầy vẻ hoảng hốt: “Trong nhà ta có người biết giặt giũ, nếu công tử không chê, ta xin giặt sạch rồi đem trả. Nếu không giặt sạch được, ta nguyện đền theo giá.”
Ánh mắt Thẩm Thanh Từ nhìn ta mang theo vẻ dò xét.
“Không cần.”
Lòng ta chùng xuống, nhưng vẫn bước lên một bước, khẽ nói: “Công tử không cho ta đền, lòng ta khó yên. Quả thực là lỗi của ta.”
Tiểu đồng cau mày: “Công tử nhà ta đã nói không cần, cô còn dây dưa làm gì?”
Ta lập tức lùi lại, cắn nhẹ môi, làm như bị dọa sợ.
Thẩm Thanh Từ liếc nhìn tiểu đồng. Tiểu đồng liền im bặt.
Một người quân tử như Thẩm Thanh Từ không thích bị quấn lấy, nhưng cũng chẳng muốn ỷ thế hiếp người. Chàng im lặng giây lát rồi hỏi: “Nhà cô nương ở đâu?”
Ta đã chuẩn bị sẵn lời đáp: “Ta tạm trú ở nhà cữu mẫu trong ngõ phía nam, nhà họ Triệu. Nếu công tử không yên tâm, có thể sai tiểu đồng đi cùng ta đến xem.”
Thẩm Thanh Từ lắc đầu. Chàng cởi áo ngoài, đưa cho tiểu đồng, rồi bảo tiểu đồng chuyển lại cho ta.
“Giặt không sạch cũng không sao. Ba ngày sau, vẫn gặp ở đây.”
Ta nhận lấy áo. Y phục rất sạch, thoang thoảng mùi bồ kết, hoàn toàn khác với mùi rượu và phấn son trong Kim Ngọc Lâu.
Ta rũ mắt: “Đa tạ công tử.”
Thẩm Thanh Từ không nói thêm, xách hộp bánh hoa quế rời đi.
Ba ngày sau, ta gấp gọn chiếc áo đã giặt sạch, thay bộ y phục giản dị tương tự rồi đến tiệm bánh. Quả nhiên, Thẩm Thanh Từ đã tới.
Khi đưa áo cho chàng, ta cố ý để lộ một góc tờ giấy trong tay áo. Trên giấy viết nửa bài thơ. Ánh mắt chàng dừng trên đó trong thoáng chốc.
Thẩm Thanh Từ nhận lấy áo, khẽ nói: “Đã làm phiền cô nương.”
Ta lắc đầu: “Vốn là ta làm bẩn, công tử không trách tội đã là rộng lượng.”
Tiểu đồng mở áo ra xem, kinh ngạc nói: “Quả nhiên giặt sạch rồi!”
Ta chỉ mỉm cười, không đáp.
Tờ giấy vẫn lộ ra nơi ống tay áo. Gió thổi qua, góc giấy khẽ lật, để lộ nửa câu thơ.
Cuối cùng, Thẩm Thanh Từ lên tiếng: “Cô nương cũng đọc thơ sao?”
Ta như vừa phát hiện giấy lộ ra ngoài, vội thu vào tay áo: “Chỉ là lúc rảnh rỗi viết linh tinh, khiến công tử chê cười rồi.”
“Có thể cho ta xem qua chăng?”
Ta do dự một lát rồi đưa giấy cho chàng.
Trên giấy chỉ có hai câu:
“Đèn tàn, mộng cũ theo xa, Thuyền côi chở nguyệt về nhà.”
Nửa bài sau vẫn còn để trống.
Thẩm Thanh Từ xem hồi lâu rồi hỏi: “Vì sao không viết tiếp?”
Ta rũ mắt: “Ta không nghĩ ra.”
“ Hai câu này không giống tiện tay viết nên.”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng: “Công tử thấy hay sao?”
“Có nỗi cô độc, nhưng không suy sụp.” Thẩm Thanh Từ nói: “Chỉ là nửa sau nếu viết quá nặng, sẽ lấn át ý trước; nếu viết quá nhẹ, lại không nâng đỡ được.”
Lòng ta khẽ động.
Chàng quả thực hiểu thơ.
Ta cố ý nói: “Vậy xin để công tử nối tiếp.”
Tiểu đồng đứng bên cạnh ngẩn người, dường như cảm thấy ta quá to gan. Thế nhưng Thẩm Thanh Từ không hề tức giận.
Chàng trả giấy lại cho ta: “Thơ là của cô nương. Người khác nối tiếp, chưa chắc đã hợp ý.”
Ta nhận lấy, cười nhạt: “Biết đâu người khác viết ra, lại chính là điều ta không nghĩ tới.”
Nói xong, ta không nán lại lâu, hành lễ rồi rời đi. Ta cảm nhận được ánh mắt chàng dừng trên lưng mình một lúc.
Sau hôm ấy, ta không đến tiệm bánh chờ chàng nữa. Một lần tình cờ gặp gỡ là duyên phận, hai lần đã có thể khiến người ta sinh nghi. Lần thứ ba, ta đổi sang hiệu sách.
Khi chàng bước vào, ta đang cầm một quyển tạp sử đọc dở. Chưởng quầy trông thấy chàng, vui vẻ nói: “Thẩm công tử đến rồi. Quyển sách mấy hôm trước công tử hỏi đã có hàng.”
Chàng nhận ra ta. Ta giả vờ như vừa trông thấy, hơi sững lại rồi hành lễ.
“Triệu cô nương.”
Ta chỉ thuận miệng bịa ra họ Triệu, vậy mà chàng lại nhớ.
Ta khẽ đáp: “Thẩm công tử.”
Chưởng quầy lấy sách ra, nhưng Thẩm Thanh Từ chưa rời đi. Chàng nhìn quyển tạp sử trong tay ta, hỏi: “Cô nương cũng đọc loại sách này sao?”
“Ta không hiểu lắm.” Ta khép sách lại: “Chỉ cảm thấy người trong sách tranh đấu qua lại, cuối cùng chịu khổ vẫn là bách tính.”
Chàng nhìn ta, ánh mắt có thêm vài phần hứng thú.
Chúng ta nói với nhau đôi câu trong hiệu sách. Sau đó là ở quán trà.
Chàng ngồi bên cửa sổ, còn ta vào tránh mưa. Trông thấy chàng, ta không tiến lại gần. Ngược lại, chàng là người lên tiếng trước:
“Triệu cô nương nếu không chê, có thể ngồi đây.”
Chàng đã bắt đầu chủ động rồi.
Chúng ta bàn về thơ, về sử, về giá gạo gần đây trong thành. Ta không bao giờ nhắc đến thân thế mình, cũng chẳng hỏi chuyện gia đình chàng. Chàng mở lời, ta mới tiếp đôi câu.
Người như Thẩm Thanh Từ không thích nữ tử cố ý lấy lòng. Điều chàng thích là biết chừng mực.